
Nguyễn Hiến Lê (1912-1984), là một nhà văn, dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập. Ngòi bút Nguyễn Hiến Lê đề cập đến nhiều lĩnh vực mà ở lĩnh vực nào ông cũng có căn cứ khoa học, am tường cặn kẽ về đối tượng, sâu sắc về các vấn đề được nhắc tới. Những tác phẩm biên khảo và dịch thuật của Nguyễn Hiến Lê có tác dụng nâng cao dân trí trong một thời kì dài hàng ba thập kỉ của thế kỉ XX. Những đóng góp của cụ ở mảng lịch sử và triết học rất đáng trân trọng, sáng giá, không thể bỏ qua.
Giới thiệu tủ sách Triết học của dịch giả Nguyễn Hiến Lê
Tủ sách Triết học của Nguyễn Hiến Lê gồm những cuốn sách trình bày về hệ thống triết học cổ điển Trung Hoa cũng như những tấm gương lớn về chân dung các triết gia Đông, Tây. Qua những cuốn sách, tác giả giới thiệu những nét chính trong triết học Trung Quốc, giúp bạn đọc hiểu thêm về truyền thống văn hóa Trung Hoa cũng như các quốc gia chịu ảnh hưởng bởi nền văn hóa ấy. Bên cạnh đó là nhân sinh quan, nhận xét phê phán của cụ Nguyễn Hiến Lê về những tấm gương triết gia lớn của Trung Quốc.
1. Nội dung tủ sách mang đến
Tủ sách Triết học của Nguyễn Hiến Lê sẽ giới thiệu với các bạn hệ thống triết học cổ điển Trung Hoa cũng như những tấm gương lớn về chân dung các triết gia Đông Tây. Qua đó, tác giả giúp người đọc hiểu thêm ít nhiều về triết học Trung Quốc từ cổ đại đến hiện đại với một tinh thần khoa học và giàu tính nhân văn. Tủ sách còn chứa đựng nhân sinh quan của tác giả khi cầm bút cũng như nhận xét, phê phán về các triết gia lớn. Tinh thần khách quan, khoa học của Nguyễn Hiến Lê khiến bộ sách được giới thức giả chân chính đánh giá cao trong lao động học thuật của ông.
2. Giới thiệu tủ sách Triết học của dịch giả Nguyễn Hiến Lê
Cuốn Nho giáo một triết lý chính trị – 1958
Cuốn Nho giáo một triết lý chính trị chính là cuốn sách mở đầu cho chương trình nghiên cứu Triết học Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê. Cuốn sách giới thiệu những triết lý chính trị giúp bạn đọc hiểu về truyền thống văn hóa Trung Quốc cũng như các quốc gia chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Nho giáo (Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc,..)
Cuốn Đại cương triết học Trung Quốc (viết chung với Giản Chi) – 1965
Tác phẩm là một công trình đồ sộ của hai tác giả về đại cương lịch sử triết học Trung Quốc từ cổ đại đến cận đại với một tinh thần khoa học mà giàu tính nhân văn. Khi đánh giá về sự phát triển của triết học Trung Quốc nói chung, Nguyễn Hiến Lê không giấu nổi lòng sùng kính. Những không có nghĩa là cụ hoàn toàn nhất trí với toàn bộ học thuyết của các triết gia. Đây là một cái nhìn rất khách quan mà nhân bản của hai tác giả. Bộ Đại cương Triết học Trung Quốc có cách trình bày mới mẻ không như đa số các sách viết về triết học khác khiến độc giả vô cùng thích thú.
Cuốn Nhà giáo họ Khổng – 1972
Cuốn sách viết ngắn gọn, cô đọng về cuộc đời và đạo lý của Khổng Tử qua lời kể chuyện rành mạch súc tích của Nguyễn Hiến Lê. Lời dạy của Khổng Tử không có tài liệu, tài liệu hiện còn lưu truyền là do học trò của Khổng tử nghe lời dạy sau này chép lại, rải rác từ thời tiền Hán đến thời hậu Hán. Việc học kiến thức, học lễ nghĩa của người quân tử được đề cao, kẻ sĩ nên dốc sức giúp thân, giúp nhà, mở rộng mới mong gánh được thiên hạ.
Cuốn Liệt Tử và Dương Tử – 1972
“Tuy là một tác phẩm về triết mà chỉ có một phần mười là lý thuyết, còn chín phần kia toàn là kể truyện: truyện cổ, truyện hoang đường, truyện có thật, truyện tưởng tượng…để đưa ra một tư tưởng, một chủ trương, một lời răn, một điều dạy khôn. Đó là đặc điểm của bộ Liệt tử. Do đó tác phẩm rất hấp dẫn, đọc rất vui, khác hẳn các bộ Đạo Đức kinh, Mặc tử, Tuân tử, giá trị văn chương chỉ kém Nam Hoa kinh của Trang tử, từ thời đường được tôn xưng là một kinh cũng đáng.” (Lời tựa cuốn sách “Liệt Tử và Dương Tử” – Nguyễn Hiến Lê)
Cuốn Một lương tâm nổi loạn – 1970
“Hạnh phúc chẳng ở đâu xa, hạnh phúc là khi ta biết ĐỦ”. Yêu thương quá sinh gò bó, quan tâm quá khiến mất tự do, ghen tuông quá mất vị tình yêu và cái gì cũng thế, chạm đến chữ ĐỦ sẽ chạm được hạnh phúc tròn vị. Cuốn sách nói cho mỗi cá nhân phải sử dụng chính quyền như thế nào cho phải lẽ, cho đúng thực là con người có lương tâm và dám hành động cho những điều tốt đẹp nhất.
Cuốn Thế giới ngày mai và tương lai nhân loại – 1971
Cuốn sách nói về cảm tưởng tổng quát về thế giới, tương lai nhân loại của Bertrand Russell – dòng dõi quý tộc Anh và Albert Einstein – giới trung lưu Do Thái. Họ có những điểm trái ngược nhau như mặt trời và mặt trăng, Russell hoài nghi, đam mê, bướng bỉnh và tàn bạo, một chiến sĩ khuấy động quần chúng còn Einstein vui tính, ôn hòa, hiền từ, một nhà tư tưởng, ghét cảnh ồn ào, chỉ thích suy tư trong một phòng tĩnh mịch bề bộn sách vở. Vậy mà hai người vẫn quý mến nhau, là đồng chí của nhau, đều hăng say làm việc, coi đó là nguồn hạnh phúc chính trong đời, tuyệt nhiên không màng tới lợi lộc, danh vọng..
Cuốn Mạnh Tử – 1975
Mạnh Tử được xem là đại biểu xuất sắc của Nho Giáo thời Chiến Quốc, một thời đại loạn nhưng cũng là thời tư tưởng của Trung Quốc phát triển rất mạnh. Trong cuốn Mạnh Tử, Nguyễn Hiến Lê đã viết: “Mạnh Tử sinh ra trong một thời như vậy, hỗn loạn hơn thời của Khổng Tử, lại chịu ảnh hưởng tính tình cương cường bất khuất của Tử Tư, thì dĩ nhiên Mạnh Tử cũng phải ôm hận như Khổng Tử, mấy chục năm bôn ba các nước Lương, Tề, Lỗ, Đằng rồi rốt cuộc cũng lại trở về quê nhà trứ thư lập ngôn. Về phương diện ấy đời ông y hệt đời Khổng Tử”.
Cuốn Trang Tử – (Xuất bản 1994)
Nguyễn Hiến Lê đã công phu phân tích tính thiếu nhất trí về tư tưởng trong một thiên, vạch ra chỗ ngụy tác như phái quá khích, phái ôn hòa của Lão giáo, phái theo Trang, phái theo Khổng, phái theo Đạo gia… Đây là lần đầu tiên Trang tử – Nam Hoa Kinh được dịch trọn bộ sang tiếng Việt và được phân tích kĩ từng chương để giữ cho Trang Tử những cái gì của Trang mà trả lại cho người trước và người sai những cái gì của người trước và người sau. Cuốn sách giúp người đọc hiểu thêm ít nhiều về triết học Trung Quốc cổ đại chứ không pahr đơn thuần khoanh vùng ở tư tưởng Trang Tử.
Cuốn Hàn Phi Tử – (Xuất bản 1994)Nguyễn Hiến Lê nghiên cứu kĩ về tư tưởng, đời sống xã hội cùng học thuyết của Hàn Phi được vận dụng vào xã hội Trung Hoa hơn 2300 năm quan niệm rằng trị nước thì phải dùng pháp luật, có hiệu quả hơn so với phái chủ trương “nhân trị”. Học thuyết của Hàn Phi Tử đã giúp Tần Thủy Hoàng làm được một cuộc cách mạng thống nhất Trung Quốc không ai có thể phủ nhận được.
Cuốn Tuân Tử – (Xuất bản 1994)
Cuốn sách đóng góp thêm cho việc nghiên cứu triết học thời Tiên Tần và làm phong phú thêm nguồn thư tịch còn nghèo nàn của chúng ta trong lĩnh vực Trung Quốc học, nhất là về chính trị học và pháp luật học cổ Trung Hoa. Cuốn sách gồm 2 phần: nghiên cứu tác giả (cả tư tưởng lẫn học thuyết) và trích dịch kinh văn. Tuân Tử chủ trương tính ác (tính người vốn ác) và “thiên nhân bất tương quan” (người với người không quan hệ gì với nhau), ông Tuân Tử ít nói đến nhân mà trọng lễ. Tuân tử hoàn toàn là một triết gia học rất rộng, có nhiều tư tưởng độc đáo, có nhiều người tôn là học giả uyên bác nhất thời Chiến Quốc.
Cuốn Mặc học – (Xuất bản 1995)
Mặc Tử là một nhân vật kì dị nhất Trung Hoa với tư tưởng và đời sống kì dị đến nỗi gần đây người Trung Hoa ngờ rằng ông có dòng máu Ấn Độ hoặc Ả Rập chứ không phải là con cháu của Phục Hi. Trong tập Hồi Kí, Nguyễn Hiến Lê có viết về cuốn Mặc học như sau: Từ năm 1977, được nhàn rỗi, tôi lại tiếp tục nghiên cứu hết các triết gia lớn đời Tiên Tần, để thực hiện xong chương trình tôi đã vạch ra từ sáu năm trước và soạn thêm năm cuốn nữa: Mặc Học, Lão Tử, Luận Ngữ, Khổng Tử, Kinh Dịch. Mặc học (gồm Mặc Tử và phái Biệt Mặc) đạo Mặc là đạo Khổng của bình dân, do một tiện nhân thành lập. Mặc Tử sinh sau Khổng Tử, chịu ảnh hưởng của Khổng, cũng tôn quân, trọng hiền, đề cao đạo đức và sự tu thân như Khổng, nhưng chống Khổng ở chỗ ghét lễ nghi, cho nó là phiền phức, xa xỉ, ghét ca nhạc, mà lại có tinh thần tín ngưỡng rất mạnh.
Cuốn Luận ngữ – (Xuất bản 1995)
Cụ Nguyễn Hiến Lê nói đôi điều về việc dịch lại cuốn Luận ngữ như sau: “Tôi đã bỏ ra hơn hai tháng đọc lại những sách về Khổng tử mà tôi có hoặc mượn được (như của Lữ Chấn Vũ: Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc; Hầu ngoại Lư: Tư tưởng cổ đại Trung Quốc; Quan Phong và Lâm Duật Thời: Bàn về Khổng Tử – đều do ngoài Bắc dịch); đọc lại các bản dịch và chú giải Luận ngữ của mình, và của Trung Hoa (như Luận ngữ độc bản của Thẩm Tri Phương và Tưởng Bá Tiềm, Luận ngữ dịch chú của Triệu Thông; lại bỏ ra hơn hai tháng nữa để dịch lại bộ Luận ngữ, vừa dịch vừa phân loại theo đề tài lập bảng tra tên người, tên đất”.
Cuốn Khổng Tử – (Xuất bản 1992)
Đức Khổng Tử là một bậc hiền triết Trung Hoa, được dân tộc Trung Hoa tôn thờ. Suốt đời đi chu du các nước truyền bá học thuyết. Đem lại trật tự tôn ty cho một xã hội đầy chiến tranh loạn lạc, tạo đạo đức trong loài người…Ông cũng là nhà luân lý , nhà chính trị và một sử gia. Triết thuyết chính trị của ông được coi là quốc giáo liên tiếp trên hai ngàn năm, người đầu tiên mở trường tư thục dạy học. Một nhà hiền triết ảnh hưởng cả Đông Á, để lại cho đời tấm gương sáng ngời.
Cuốn Kinh Dịch – Đạo của người quân tử – (Xuất bản 1990)
Cuốn sách tổng hợp cách xử thế, tu thân, đạo đức của bậc chính nhân quân tử ngày xưa. Tất cả các chủ đề đều được trình bày một cách có hệ thống, sáng sủa tư tưởng cổ nhân. Nguyễn Hiến Lê quan niệm vũ trụ quan trong Kinh Dịch là tổng hợp thuyết Âm Dương có từ đời Ân là đạo Lão, đạo Khổng nhưng bớt hữu vi, trọng khiêm nhu hơn, trọng phụ nữ hơn. Chính vì vậy triết lý trong Kinh Dịch rất thực tiễn, 64 quẻ đều xét đến những việc thường nhật từ ăn uống, cưới xin, kiện cáo, xuất hành, dạy con…
Tủ sách Triết học của Nguyễn Hiến Lê thật sự là một kho tàng giá trị giúp nghiên cứu triết học, làm phong phú bổ sung thêm cho nguồn thư tịch nghèo nàn của chúng ta về triết học, văn hóa Trung Hoa, nhất là về chính trị học và pháp luật cổ của Trung Quốc.
